Banner
Banner
Phật Đạo Trong Nỗi Lòng Thao Thức - Page 2 PDF Print E-mail
Article Index
Phật Đạo Trong Nỗi Lòng Thao Thức
Page 2
Page 3
All Pages

Thế rồi:

Đêm thao thức

Ngày ngày

đều thao thức,

Tháng, năm dài,

Thao thức mãi,

ưu tư!

 

Nhớ

luôn luôn

Chuyện hành đạo:

Xưa, Giờ.

 

“Là Bản Nguyện”

Phật

Tổ

Thầy

Minh chứng.

---- oOo ----

Đến những năm 2004, 2005, 2006, ba năm liên tục dường như ánh đèn “Chơn Lý Khất Sĩ” từ từ rạng sáng mà Chư Tăng đã quần tựu đông đảo trong những ngày Đại lễ, mỗi năm ba lần ( Lễ Phật Đản, Lễ Vu Lan, Lễ kỷ niệm Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang), qua thư mời của Pháp Duyên Tịnh Xá, những năm ấy tôi đều quyết định trong chương trình nghi lễ có mục đi “Khất thực hóa duyên”, là cơ hội để Phật tử gieo duyên tác phước, khiến cho ai nấy đều rất lấy làm hoan hỷ, chẳng những giới xuất gia Tăng Ni, chí đến các hàng cư sĩ tại gia, Thiện Nam Tín Nữ, cũng rất ham mộ và tán thán, hưởng ứng phương pháp Du Tăng Khất Sĩ hoá duyên nầy, rất là lợi lạc cho Tứ chúng. Chẳng những lợi lạc cho Phật tử Việt nam, thậm chí cho đến Phật tử các quốc gia như: Thái land, Campuchia, Lào, Tây Tạng, v.v… cũng rất hoan hỷ khi nhìn thấy Đoàn Du Tăng đi hóa duyên trên đường phố.

Một cuộc họp Chư Tăng Đông Nam Á Châu, được tổ chức tại Tiểu Bang Minisota vào năm 2006, tôi đã trình bày dự án Đoàn Du Tăng, nói lên nguyện vọng tha thiết, sự kết hợp, hài hoà trong tình đạo nghiệp, sứ giả Như Lai, hành trì Giáo lý Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni, trong thời đại ngũ uẩn thạnh hành, chúng sanh điên đảo. Cũng là nguyện vọng: “Tác Như Lai Sứ, Hành Như Lai Sự” bằng tinh thần “Lục Hoà” Đức Phật dạy từ ngàn xưa, kính mong các bậc Tăng Già cảm nhận.

Cũng từ những cơ duyên hội ngộ ấy, mà nguyện vọng chánh đáng phục vụ Đạo Pháp, phổ hóa quần sanh, nuôi dưỡng “Cây Bồ Đề Khất Sĩ” ngày càng toả cành xanh ngọn, phủ che bóng mát Đạo lý cho đời được an lành hạnh phúc. Nhân Đại Lễ Vu Lan Bồn Mùa Báo Hiếu năm 2007, một cuộc triệu tập qui mô gồm nhiều chư Tôn Đức Tăng Già thuộc các quốc gia như, Campuchia, Thailand, Sri Lanka, Lào, Bangladesh, Việt nam v.v…Pháp Duyên Tịnh Xá cung mời về tham dự Đại lễ, cũng một Đoàn Tăng rạng chiếu Ánh Vàng chói lọi trên đường phố San Jose. Tiếp đó một cuộc họp mở rộng, bàn vấn đề kết hợp Phật Giáo Đông Nam Á Châu, thành lập “Đoàn Du Tăng” để đi hành đạo, đồng thời đề cập các vấn đề: Cơ sở Phật Giáo, Xã hội Phật Giáo và Văn hoá Phật Giáo v.v…Không ngoài mục đích mang tinh thần Phật Giáo, một Giáo lý Bình đẳng, Từ bi, Giáo lý hài hòa, Phật Giáo phụng sự Hoà Bình Thế Giới. “Đoàn Du Tăng là Sứ Giả Hoà Bình. Phát huy Đoàn Du Tăng là xây dựng ngôi nhà Chánh Pháp, mở rộng cánh cửa Từ Bi, cứu nhân độ thế”. Đó là ý thức chánh đáng và nguyện vọng chân thành, hầu phụng sự nhân loại khi bước vào thế kỷ 21. “Thế kỷ cho Hoà Bình. Thế kỷ của Phật Giáo tác thành sứ mạng”, mà tôi đã nhiều lần trao đổi, tâm sự với chư Tôn Đức Tăng Già thuộc các Quốc gia tôi đã thường tiếp xúc.

Vẫn biết: “Đời là thế thế thời phải thế”. Nhưng, “Dù ai nói ngã nói nghiêng, lòng ta vẫn giữ như kiền ba chân”: Giới, Định, Huệ là nền móng xây dựng ngôi nhà Chánh Pháp. Ngược lại Tham, Sân,  Si là độc dược giết chết mạng mạch Tăng Già. Thị phi là đòn xóc nhọn hai đầu không thể dùng nó để làm đà tiến thủ ! Ngọn đuốc Chơn Lý không thể tắt, khi Phật Lý sáng ngời, soi diệt nguồn gió chướng vô minh: Tham, Sân, Si nơi biển trần sóng dậy.

Nhớ lại “ Chân Ngôn của Đức Thầy Giác An” trong điềm linh hiển hách. Thầy rằng:

 

Dù con đã

trăm lần thủ thắng.

Một trận thua,

tay trắng về không!

Nhưng, lòng,

con biết nhủ lòng.

Cơ đồ gầy lại,

oán không một người.

Lại nữa, Đức Thầy Giác An đã dạy, “Đạo Đó Ông” chỉ có ba chữ mà thôi, Ba chữ đó đã làm cho tôi “NGỘ” trong một nghịch cảnh vô cùng tuyệt vọng! trong một chướng nạn không thể vượt qua, quỷ dữ như đã đến thời hưng thạnh, có thể nhận chìm kẻ chơn tu, “Trung với Đạo, Hiếu với Thầy”, nguyện đem thân tâm phụng sự chúng sanh ấy là đền ơn chư Phật, đó là câu châm ngôn mà các bậc Thầy đã hằng khuyến nhắc cho người lập chí, lập hạnh tấn tu, từ ngày bước lên con thuyền Du Tăng Khất Sĩ, thì sá gì những lắm chuyện tranh đua giựt giành cấu xé, những ganh tỵ xấu hèn của thế nhân giữa biển đời ô trược!

Đúng thật, Ba Chữ “ĐẠO ĐÓ ÔNG” là một phép mầu diệu dược, trị bá chứng nan y, trị muôn ngàn nghiệp chướng, trị luôn cả những chứng bịnh tà ma quỉ quái, đạo tặc thâm niên, miên trường cố chấp, hằng sa số kiếp đoạ đày nơi chốn địa ngục A Tỳ cũng được thoát ly khổ ách. Linh như thế, Hiển như thế, Mầu như thế, Nhiệm như thế, âu là phước báu, âu là duyên đạo, âu là sứ mạng của kẻ môn nhơn, Tông Truyền Thầy Tổ, chẳng hổ thẹn tu mi, không hèn như thỏ đế!

Thời gian kéo dài, không lẽ, cứ mãi mãi như thế nầy, kéo dài từ năm nầy qua năm nọ, cứ mãn tháng cùng năm, ba trăm sáu mươi lăm ngày qua rồi lại đến, đến rồi lại qua, ngày càng thấy thu ngắn kiếp đời tu học mà nguyện vọng chưa thành! Còn cơ sở thì không mong đạt thành để làm chủ động cho sự lợi ích quần sanh, vì nó đang nằm trong một hạng cuộc, bó buộc cẳng chân, làm sao có thể gọi là giải thoát để hành đạo du phương, hành trì pháp môn Du Tăng Khất Sĩ, noi gương Phật Tổ khai bày từ ngàn xưa rõ ràng ràng ánh Đạo Vàng sáng chói. Sự nghiệp hành đạo bềnh bồng giữa biển đời sóng trần dồi dập, tiến thối lưỡng nan. Thật đúng là: “Duyên chưa đến thì ta khó nỗi”!

Nhưng: Đọc, Học trong bài pháp “ Tu và Nghiệp” Đức Tôn Sư đã dạy: “Người tu là phải dứt trừ tam nghiệp của thân, khẩu, ý, không nên tích trử nó nữa; nhưng đó là dứt nghiệp hiện tại và không sanh nghiệp vị lai, chớ những nghiệp quá khứ đã gieo tạo rồi thì cũng không sao tránh được sự kết quả của thiện ác khổ vui xảy đến.” Thì những sự việc xảy ra, những hoàn cảnh đưa đến, ấy là nhân nghiệp đã gieo. Ngài nói: “Chính người khổ nạn, cực nhọc, vui chịu thiệt thòi mãi, kẻ ấy mới ắt phải giàu to tâm trí, an lạc vĩnh viễn sau nầy, đó mới gọi là pháp tu vậy” Người mà nghiệp quả đến đòi nhiều, ắt sẽ mau dứt trừ nghiệp chướng, đặng nhẹ nhàn tiến tu, chớ chẳng nên trách phiền mà gây thêm nhân nghiệp nữa!

Ngài dạy: “Kìa như xưa có vị A La Hán mà khi chết còn bị cắt đầu, Ngài Huệ Năng còn bị người cuốc mả. Lắm người tu đói khát, bần cùng, bị sỉ mạ, bắt bớ, cười chê, khinh bỉ đủ thứ v.v… Đó tức là nghiệp quả cọng dồn, trả nhiều là mau hết nợ đã vay, đó là lẽ công bằng, đó  là sự phải, hay lắm. Người tu ai ai cũng muốn như vậy….. Thế mới biết rằng: Cõi đời có ra là do nhơn nghiệp, hễ còn thân, khẩu, ý, tức nghiệp nhơn thiện ác còn gieo, thì kết quả tội phước khổ vui vốn không sai chạy.”

Đúng thật, ba chữ “ĐẠO ĐÓ ÔNG” chính lời Đức Thầy đã ấn chứng cho tôi trước khi Ngài Viên tịch, qua luồng điển từ tay Đức Thầy truyền đến tay tôi và nắm chặc nhau trong niềm xúc động, dường như Đức Thầy đọc được tâm tôi cả trước lẫn sau và hiện tại. Do vậy mà Chân ngôn của Thầy có câu:

Dù có kẻ lòng manh, ý ác.

Đem đời con xuyên tạc ra ngoài.

Sá chi  những chuyện dong dài.

Thầy khuyên con hãy một đời thủy chung.

Những lời ấy luôn luôn khắt cốt ghi xương trong cuộc đời tu thọ nhận. Có lẽ sức chịu đựng thì ai ai cũng có hạng, nhưng riêng tôi thì đã vô cùng, bởi sá chi những chuyện dong dài, mà không giữ được nguyện lòng thủy chung như nhứt.

Nguyện lòng:

gieo giống,

trồng cây,

Vun phân,

tưới nước,

có ngày nở Hoa.

Chăm nom,

gầy dựng Tăng Già

Dựng Đoàn Tăng,

các Quốc Gia,

Du Hành,

Ấy là:

Nguyện vọng chân thành.

Thời gian dài, 5 năm, 7 năm, 10 năm hay 20 năm chăng nữa, vì “duyên chưa đến thì ta khó nỗi”, nếu không kiên trì nhẫn nhục, nếu không chịu đựng phong ba, nếu không giữ vững nguyện lòng, thì bao nhiêu chục năm cũng trở thành vô dụng, cũng không nhìn thấy quả đạo lớn già, chín thơm ngon ngọt, có ích cho mình, cho người, và cho đời hữu dụng. Đức Thầy đã dạy: “ Giữ đạo và hành đạo thì sẽ đắc đạo”. Đắc đạo đây không phải lên Thiên đàng, đắc Niết bàn nằm ngay thẳng cẳng, an hưởng sung sướng, hạnh phúc riêng mình, mà đắc đạo đây là đạt “Lý Tưởng Quán Thế”, lập “Chí Nguyện Đại Hùng”, duy trì “Chánh Pháp Bình Đẳng Tánh”, chúng sanh đều có thể thành Phật. Trong ba đời: Quá khứ, Hiện tại, Vị lai, tánh Phật đã tự nhiên như nhiên, không hơn không kém, đó là bình đẳng tâm phụng đạo, hành đạo và đắc đạo vậy. Vì ba thời quá, hiện vị lai trong cõi trần trược nầy mà thiếu chí khí đại hùng, đại lực, đại từ bi, quán xét trong cõi thế gian đầy vô minh hắc ám, ta bà đắm lụy, thì làm sao tròn hạnh nguyện dẫn dắt chúng sanh lên bờ giải thoát giác ngộ được! Hiểu như thế nên quãng đời đã quá “thất thập cổ lai hy”. Ngày qua ngày vẫn an nhiên tự tại, tháng năm dài chí hướng vẫn hằng nuôi. Dù ước mơ, nguyện vọng đó: niềm vui. Duyên sẽ đến, có ngày duyên phải đến. Nên nói: “Nếu đến rồi, không vội cũng xong”.

Thế thường có câu: “Chuyện gì đến phải đến” nói như thế thì quá dễ, xưa nay những ước mơ nguyện vọng ắt dễ đạt thành, nhưng, sao không thấy ai dễ đạt thành như lòng ước muốn. Ấy mới đúng thật là: “Phàm tâm nan trắc, Thánh ý nan phân. Có vậy mới biết “ “Nhân già thì quả mới chin. Hạt chắt ắt phải lên cây” Điều nầy, có lẽ 80% người học Phật đều hiểu như thế, nên  rất dễ dàng thông cảm và thương tình cho kẻ môn nhơn đã cố tình cầu mong giải kết.

Nay, đúng là duyên đã đến, ai không tin, nay cũng phải tin. Đó là “ĐOÀN DU TĂNG THẾ GIỚI” đã thành hình, một tin vui cho người hướng về Đạo Phật, học giáo lý Chư Phật và theo đường lối hành đạo của Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni.

Trong cuộc đời tu học Đức Thầy đã dạy: “Niềm Tin: Mẹ đẻ muôn sự thành công. Hạnh Đạo: Tròn, xứng danh người học Phật. Nguyện Lực: Đầy, Giới Định Tuệ khai thông”. Nhờ vậy, mở tỏ thêm lý nghĩa: “Duyên chưa đến thì ta khó nỗi. Nếu đến rồi không vội cũng xong.”

Vào đầu mùa hạ năm Kỷ Sửu 2009, đúng là duyên đã đến, Thượng toạ Thích Giác Luận, một nhà Du Tăng Khất Sĩ trên 20 năm trường rảo bước du phương, dạn dày sương gió nắng mưa, khắp ba miền đất nước, lặn lội đó đây, không màng cực nhọc, từ thị thành náo nhiệt đông người, cho chí đến miền thôn quê hẻo lánh, từ rừng núi sơn khê đến ven miền hải đảo, đầu trần chân không với bộ huỳnh y hoại sắc, vai  mang bình bát đất để làm cớ hoá duyên, nuôi thân hành đạo, noi theo hạnh “Y Bát Chơn Truyền” của đức Nhị Tổ, nối nghiệp Tôn Sư. Nhà Sư theo chúng Tăng hiệp hoà hành đạo. Thời duyên đưa đẩy, tâm nguyện hành “Tứ Y Pháp” phát sanh, Sư thỉnh cầu ơn trên minh chứng, rồi Sư mạnh dạn cất bước lên đường Du Tăng hành đạo. Dẫu rằng nghiệp khảo lao đao, biết bao thử thách giữa thời pháp nhược ma cường, nhân tâm điên đảo, đạo đức suy đồi, đất nước đang hồi cực kỳ gay cấn, nhiều nỗi khó khăn, dân tình thập phần chao đảo, mất cả niềm tin chân thật lẫn nhau cả đời lẫn đạo, con người sống trong sự phập phồng lo sợ, mất cả tự do không còn dân chủ, bóp chết nhân quyền, kể cả người tu sĩ cũng chẳng được yên thân tu hành, mà phải chịu mọi bề kiểm soát, dù là lý tưởng giải thoát, không còn bị ràng buộc nơi gia đình, xã hội, thế nhân, để được nhẹ mình rảnh rang tu học, mang Giáo Pháp Phật Đà hành đạo truyền bá nhân sanh. Thế nhưng, không dễ gì thực hành chí nguyện trọn vẹn trong cuộc đời tu giải thoát. Thật là tình đời đen bạc, mới có câu: “Đời là thế có chi đâu lạ, Thế là đời quỉ giả thành nhơn”. Thật đúng như vậy !

Nhà sư đã tìm mọi cách thoát thân, lánh mình khỏi chế độ hà khắc. Thế là ơn trên gia hộ, Bồ Tát dẫn đường, vượt qua những đám rừng sâu nguy hiểm, thú dữ bao vây, ngày đêm phập phồng hồi hộp. Nhưng, lòng vẫn giữ nguyện bên lòng, tâm tâm chí quyết vo tròn sứ mạng, nguyện hành trì “Y Bát Khất Sĩ” du phương. Do nguyện lực chân thành, nên đã có cơ may thành đạt, thoát mọi hiểm nguy, bình an trên đường vượt qua biên giới, đến đất Chùa Tháp Campuchia, lăn lóc 5 năm dài khổ hạnh, lách mình len lỏi mọi nẻo sơn khê, từ trại tỵ nạn cho đến phố chợ đông người, có lẽ nếu không đủ duyên thì cũng khó vượt qua những bàn tay sắt máu, những tư tưởng đốn hèn, những con người vô thần quỉ dữ, săn đón rình rập ngày đêm, những con người không còn nhân tính, dù cho các bậc tu chơn chúng cũng chẳng có chừa! dễ gì có được tự do hành đạo.

Pháp Phật nhiệm mầu, Quán Âm  rõ thấu. Bồ Tát soi căn, tạo duyên vô cùng khích lệ, Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc tiếp nhận người tu hành khổ hạnh, chính thức cho lên đường tỵ nạn trên đất nước Hoa Kỳ. Thế là “chuyện gì đến phải đến” Vấn đề định cư là một kết quả hy hữu, là sự đền bù cho tâm hồn hướng thượng “Trên cầu Phật Đạo, hạ hóa chúng sanh” của người Tăng lữ.

Thế giới Tự do bắt đầu từ đôi cánh chim sắt vươn cao giữa bầu trời thanh bạch, trong lành  thơm tho mùi giải thoát. Đôi cánh chim bạt gió lướt mình nhẹ nhàng phơi phới tung bay. Đúng thật là thế giới tự do, trên trời cũng tự do mà xuống đất cũng tự do, đi khắp Đông, Tây, Nam, Bắc đều tự do, con người đi lại tự do, chẳng có thông hành, không ai kiểm soát v.v… Cái tự do đó đã tạo cơ duyên cho nhà Sư du hành đó đây thoải mái, tiếp nhận nhiều bài học đáng giá đầy kinh nghiệm của cái tự do, như để lọc lừa chọn lựa, như để đối chiếu tư lương, như để tìm nguồn cảm hứng. Sau hơn 3 tháng dài du phương đây đó, nhắm vào nhiều địa hạt tạo duyên, mong kết  nhiều nhân tâm khả dĩ, hợp lý tưởng chân phương trong cuộc đời nuôi mộng. Từ địa danh cho đến nhân tài, từ phương hành cho đến con đường lý tưởng, Thượng tọa đã tâm tình  bằng sự hết mình tha thiết đối với mọi người mọi nơi. Những đối tượng, lắm người nghĩ rằng: “Người mơ mộng ảo huyền nơi xứ đầy vật chấ,t tràn ngập mọi phương tiện trong cuộc sống, sao không chịu hưởng sung sướng, an nhàn !” Thượng toạ âm thầm và nín lặng!.

Người tìm đến gặp tôi tại Pháp Duyên Tịnh Xá, nơi chưa hề quen biết, chưa biết tôi mặt mũi thế nào, dù  đã nghe biết tiếng từ  lâu“Văn kỳ thinh bất kiến kỳ hình” Người đối diện tôi như có ý thăm dò, xét nét. Nhìn Thượng tọa tôi đọc được tư tưởng qua ánh mắt như một nhà điệp viên chuyên nghiệp, nhưng, không thể nghi ngờ sự đóng kịch như các nhà làm chính trị chuyên môn, mượn danh nghĩa một ngưòi Tu sĩ qua chiếc áo nhà tu để đánh lừa thiên hạ. Riêng tôi, qua hơn 50 năm, từ thuở còn là một chàng thanh thiếu niên đã cảm nhận được điều đó, và kinh nghiệm ngày càng chồng chất trong kiếp sống, dường như lúc nào cũng dè dặt, dè dặt và dè dặt. Thì ra, người Tu sĩ (Thượng tọa Giác Luận) cũng không ngoài ánh mắt của tôi chuyền đạt tâm tư qua con người đang đi tìm kiếm, không phải nhà Sư đi tìm kiếm tiền bạc, cũng không tìm kiếm danh vọng thế quyền, mà tôi biết người đang đi tìm kiếm lý tưởng, cái lý tưởng mà ngày xưa Ông Bà Tổ Tiên ta đã thường dạy: “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Cái lý tưởng mà tôi đã phát sanh từ thuở thiếu thời, nên mới phát tâm  hướng về Phật Pháp, tiến bước lên đường xuất gia học đạo. Cái lý tưởng làm người Du Tăng như các nhà Sư Khất Sĩ thuộc Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam , môn đồ của Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang, rảo bước hành đạo tại miền Trung nước Việt vào những năm 1958, 59, 60. Và kể từ đây tôi đã là người hộ đạo đắc lực trong công cuộc truyền bá Giáo lý Khất Sĩ mà chư Tăng trong các Giáo đoàn III , IV và V, lần lượt mở những cuộc thuyết pháp công cộng, những nơi mà Đoàn Du Tăng có cơ duyên hành đạo, sau vài ba năm khi hiệp định Giơ neo vừa đình chiến, và đất nước bị chia đôi, cái thời mà Cụ Ngô Đình Diệm về nắm quyền Thủ tướng, lập Chính phủ “Việt Nam Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam”. Cũng cùng thời đó, tôi lại có duyên tinh cần phụng sự Phật Pháp, mà “Đoàn Du Tăng Khất Sĩ” là môi trường phát triển tâm linh tôi từ thuở ban đầu và cũng tứ ấy … Do vậy mà ý thức cùng lý tưởng và hình ảnh “Đoàn Du Tăng” mãi ghi sâu trong lòng.

Nay, đúng là duyên đã đến một cách bất ngờ, Bồ Tát dẫn đường Thượng tọa Giác Luận đến với tôi cũng bằng niềm thao thức, bằng nguyện vọng Du Tăng mà Người đã mang hoài bảo, đơn phương thực hành trong nhiều năm dài hữu hiệu. Qua sự trình bày tha thiết cộng với bao kinh nghiệm tràn đầy, tôi đã nhìn Thượng tọa bằng ánh mắt cảm thông và quý mến. Sau bao ngày trao đổi, bàn bạc lẽ phải điều hay, lý tình rốt ráo, chúng tôi đã “đồng thanh tương ứng”, thoã thuận nhau bằng quyết định thành lập “Đoàn Du Tăng Thế Giới” trong chiều hướng mở rộng mà chúng tôi “tương cầu” nên đã trở thành “đồng khí”. Tình đạo ngày càng khắn khít thâm sâu, tinh thần “lục hoà” đã cùng nhau thực hiện, đồng cam cộng khổ, trải qua bao sự thách đố, bỉ thử, so bì, tiếng chì, tiếng bấc. Nào ai đã hiểu cho lòng thầm kín của chúng tôi mà lại xen vào tiếng ra, tiếng vô, tiếng hơn thua phải trái! Nào ai đã hiểu cho rằng: “Con người sanh ra thì phải có Cha có Mẹ, còn khi đi học thì phải có Tổ có Thầy, thì dĩ nhiên phải có tôn ti trật tự, có luật giới hẳn hòi”, sao lại có những kẻ vô duyên xen vào xách khoé, có những người vô đạo muốn chia rẽ lẽ chân của các bậc ông già người lớn. Thử hỏi có nghịch đời phá đạo hay không?  Nguyện vọng chúng tôi là tự mình thức tỉnh, sám hối tự tâm, tránh xa mọi sự lỗi lầm, không gây nhân nghiệp, để còn mong xóa sạch gương xấu cho đời, cầu xin nhận tội và sám hối cho người, đừng gây thêm nghiệp ác. Đó là bổn phận người tu, gương hiền trong sáng. Nên rằng:

Người Chơn, Tâm Chánh, Hạnh Hiền.

Ba điều trọn đủ Chư Thiên hộ trì.

Thêm vào Đức tánh Từ Bi

Nguyện lòng rộng lớn, có chi sánh bằng

Phật, Tổ hành pháp Du Tăng

Ngàn xưa Chơn lý, Pháp Đăng trao truyền

Thời nay Tứ Chúng lập nguyền

Du Tăng Thế Giới, kết duyên độ đời.

--- o O o ---



 
Điện Văn Phân Ưu, HÒA THƯỢNG TRÍ CHƠN

Điện Văn Phân Ưu


Kính gửi: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ
Và ban tổ chức Tang Lễ tại Chùa Bát Nhã


Nhận được tin Cáo Bạch của Hội Đồng Giáo Phẩm, Hòa Thượng Chánh Văn Phòng ấn ký, chúng tôi vô cùng xúc động trước sự mất mát của Giáo Hội vì sự ra đi đột ngột của Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành.


Ngài đã thuận thế vô thường, điềm nhiên thị tịch vào lúc 6 giờ chiều ngày 14.3.2011 (Mùng 10.02.Tân mão) tại Chùa Bát Nhã, Santa Ana, California. Thọ thế 79 tuổi, Hạ lạp 46.


Giáo Hội mất đi một bậc Tôn túc Lãnh đạo. Một bậc tài ba có nhiều học vị đã hy hiến cuộc đời phụng sự và phục vụ Đạo Pháp, đóng góp cho nền Văn hóa Phật giáo Việt nam qua nhiều tác phẩm biên khảo, dịch thuật, báo chí v.v…


Môn đồ Pháp quyến mất đi một cây đại thọ che mát tình đời giữa thời đại nắng táp mưa sa, trải qua nhiều cơn Pháp nạn!
Chân thành phân ưu, chia xẻ niềm tình thâm cảm.


Cầu nguyện Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng thượng Tâm hạ Chánh,
hiệu Thích Trí Chơn, Thiền Phái Lâm Tế, đời thứ 43, Tân Viên tịch
Cao Đăng Phật Quốc.

TM. Đoàn Du Tăng Thế Giới
Trưởng Đoàn


Hòa thượng Thích Giác Lượng


KÍNH VIẾNG GIÁC LINH HÒA THƯỢNG TRÍ CHƠN

Kính dâng một nén hương lòng
Viếng cầu đại lão thong dong liên đài
Giác duyên tròn nguyện Như Lai
Linh căn phúc quả yên ngai Niết bàn
Hòa cùng pháp giới Tây phương
Thượng sanh thượng phẩm lọng tàng phủ giăng
Trí năng phụng đạo thường hằng
Chơn thành trọn nguyện Du Tăng độ đời./.

Giác Lượng Tuệ Đàm Tử